
Ông Trần Đình Hải (61 tuổi, Thái Nguyên) là một trong những trường hợp điển hình của tình trạng đó. Tháng 4/2024 ông Hải đi khám khi khả năng nhìn của mắt phải đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Khi đó, ông mới biết mình mắc glôcôm và thị lực đã mất không thể cứu vãn. Ông đã mất vĩnh viễn thị lực ở mắt phải. Đáng lo hơn, mắt trái của ông cũng bắt đầu xuất hiện những triệu chứng sớm. Đó chính là cách glôcôm âm thầm “đánh cắp” thị lực của người bệnh.
Hiểm họa mù lòa từ glôcôm – căn bệnh khó nhận biết sớm
Theo bác sĩ Đào Đức Hiếu - Bệnh viện Mắt Hà Nội 2, trường hợp như ông Hải không phải hiếm. Mỗi năm, bệnh viện tiếp nhận hàng trăm nghìn người bệnh khám chữa mắt, phần lớn chỉ là khi mắt đã mờ, hoặc có các triệu chứng khó nhìn khác. Với người mắc glocom, phần thị lực mất đi không thể khôi phục được nữa.
Bác sĩ Hiếu cho biết, sự chủ quan của người bệnh bắt nguồn từ chính đặc tính "vô hình" của bệnh, đặc biệt là hình thái Glocom góc mở vốn chiếm tới 90% số ca mắc. Ở giai đoạn sớm, bệnh không gây đau nhức hay đỏ mắt, khiến người bệnh vẫn lầm tưởng mình có đôi mắt khỏe mạnh trong khi nhãn áp cao đang âm thầm "bóp nghẹt" các sợi thần kinh thị giác. Các nghiên cứu chỉ ra rằng có tới 40% số sợi thần kinh thị giác có thể bị phá hủy vĩnh viễn trước khi bệnh nhân nhận ra những khiếm khuyết đầu tiên trong tầm nhìn. Điều này khiến cho phần lớn các trường hợp khi nhập viện đã ở giai đoạn muộn, lúc này y học chỉ có thể can thiệp để bảo tồn phần ánh sáng ít ỏi còn lại chứ không thể phục hồi những gì đã mất.

Một sai lầm phổ biến khác khiến nhiều người đánh mất cơ hội bảo vệ thị lực chính là quan niệm cho rằng chỉ cần đo nhãn áp là đủ để chẩn đoán bệnh. Trên thực tế, có một tỉ lệ lớn bệnh nhân mắc Glocom nhãn áp bình thường, nơi tổn thương thần kinh vẫn diễn ra dù áp lực trong mắt không vượt quá ngưỡng 21 mmHg. Điều này đặc biệt phổ biến ở người Châu Á, đòi hỏi một quy trình tầm soát chuyên sâu hơn thay vì chỉ kiểm tra nhãn áp đơn thuần.
Bên cạnh đó, tình trạng lạm dụng các loại thuốc nhỏ mắt chứa Corticoid để tự điều trị ngứa hay đỏ mắt tại Việt Nam đang làm gia tăng tỉ lệ mù lòa do Glocom thứ phát ở độ tuổi lao động.
Khám tầm soát định kỳ: “Chìa khóa” giữ lại ánh sáng
Sự nguy hiểm và phức tạp đưa glocom trở thành một trong những bệnh lý cần hành động quyết liệt của WHO. Trong số 17.000 mã bệnh do WHO quản lý, đây là bệnh nhãn khoa duy nhất được WHO tổ chức tuần lễ hành động toàn cầu để nâng cao nhận thức và hành động, thay vì ngày hành động như các mã bệnh nguy hiểm khác. Theo WHO, một ngày chỉ đủ để "nhắc tên", nhưng một tuần mới đủ để "hành động" (khám bệnh và đo nhãn áp).
Ứng phó với căn bệnh này, Hiệp hội Nhãn khoa Hoa Kỳ (AAO) khẳng định: các tổn thương do Glocom là vĩnh viễn, không thể đảo ngược. Tuy nhiên, thuốc và phẫu thuật có thể giúp giảm thiểu các tổn thương tiếp theo. Khám mắt định kỳ là biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ thị lực.
Thông qua các kiểm tra như đo nhãn áp, soi đáy mắt hay đánh giá thị trường, bác sĩ có thể phát hiện tổn thương rất sớm, ngay cả khi người bệnh chưa cảm nhận được triệu chứng. Những người trên 40 tuổi, có tiền sử gia đình mắc Glocom, cận thị nặng hoặc từng tăng nhãn áp cần đặc biệt chú ý tầm soát định kỳ.
THS. BS Hoàng Thanh Nga (Bệnh viện Mắt HN 2) nhấn mạnh: Một cuộc khám mắt chuẩn mực để "khắc chế" Glocom phải bao gồm đầy đủ bộ xét nghiệm chuyên sâu như chụp cắt lớp võng mạc OCT để đánh giá cấu trúc dây thần kinh và đo thị trường để kiểm tra chức năng nhìn ngoại vi. Đồng thời bác sĩ cũng khuyến cáo:“Người có tiền sử Glocom nên kiểm tra mắt định kỳ khoảng 6 tháng một lần để kiểm soát nhãn áp và phát hiện sớm bất thường.”
Việc khám mắt định kỳ, tuân thủ điều trị suốt đời và duy trì lối sống khoa học chính là chìa khóa để gìn giữ cửa sổ tâm hồn trước căn bệnh này. Glocom tuy nguy hiểm, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát và gìn giữ đôi mắt nếu được phát hiện sớm và điều trị định kỳ đúng cách.


















